Thứ Ba, 30 tháng 4, 2019

17.Chi phí tuân thủ pháp luật quá “đắt” với doanh nghiệp!

www.328.vn sưu tầm
TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO TẠO ĐIỀU DƯỠNG
Vừa học vừa làm vừa có lương 40 triệu / 1 tháng
Bằng tốt nghiệp có giá trị quốc tế, học lên thạc sĩ
Xét tuyển tuổi từ 18 -25, tốt nghiệp cấp 3 trở lên
HOTLINE ĐIỆN THOẠI / ZALO 0921888868

Quốc Hùng/ Báo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn
Chi phí không chính thức có thể phát sinh ở mọi công đoạn kinh doanh và trong tất cả quá trình thực thi quy định pháp luật, tạo thành gánh nặng rất lớn với doanh nghiệp, dẫn đến kém cạnh tranh, thậm chí mất cơ hội kinh doanh.
Quang cảnh hội nghị Về các giải pháp cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật. Ảnh: Quốc Hùng
Mất cơ hội kinh doanh
Đối thoại với lãnh đạo TPHCM gần đây, các doanh nghiệp bất động sản kêu thủ tục hành chính đang là nỗi khổ với họ, làm lỡ cơ hội kinh doanh.
Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Phúc Khang cho rằng thủ tục thực hiện một dự án phải qua năm bước, tiêu tốn mất 4-5 năm, đã làm mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Còn ông Bùi Xuân Huy, Tổng giám đốc Novaland, đồng tình rằng quy trình rà soát chậm làm mất cơ hội kinh doanh dẫn đến hoạt động kém hiệu quả.
Không riêng bất động sản mà ở các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh khác doanh nghiệp cũng gặp các vướng mắc tương tự. Tại hội nghị về các giải pháp cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật do Bộ Tư pháp tổ chức ở TPHCM tuần trước, ông Phan Đức Hiếu, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), đã chỉ ra năm loại chi phí mà doanh nghiệp phải chi trả trong quá trình hoạt động, bao gồm: thủ tục hành chính; đầu tư; phí và lệ phí; cơ hội và chi phí không chính thức. Trong đó, theo ông Hiếu, chi phí cơ hội kinh doanh và chi phí không chính thức rất khó tính toán nhưng diễn ra khá phổ biến.
Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 86/2014/NĐ-CP về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô được ông Hiếu nêu ra để dẫn chứng cho những phát sinh các chi phí không cần thiết. Theo dự thảo mới nhất, taxi sẽ phải có phù hiệu “xe taxi” và dán cố định phía bên phải mặt kính trước xe, niêm yết đầy đủ thông tin trên xe theo quy định, có hộp đèn chữ “taxi” gắn cố định trên nóc xe…
Trường hợp ô tô sử dụng hợp đồng điện tử thì phải có hộp đèn điện tử tối thiểu 12×30 cen ti mét… “Chỉ các con chữ này nhưng doanh nghiệp sẽ phải trả phí khá lớn để xin cấp phù hiệu, đợi được cấp phù hiệu, dán phù hiệu, hay phí làm bảng điện tử”, ông Hiếu nói.
Luật pháp quá “đắt”
Ông Lê Duy Bình, Giám đốc Công ty Economia Việt Nam, cho rằng chi phí tuân thủ pháp luật của không ít lĩnh vực hiện nay thực sự là “gánh nặng” đối với không chỉ doanh nghiệp mà cả nền kinh tế. Ông Bình dẫn báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2018 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), theo đó, kinh tế Việt Nam chỉ được chấm 3,1/7 điểm, xếp thứ 96/140 nền kinh tế về chỉ số gánh nặng chi phí tuân thủ pháp luật. Đây là điểm số và thứ hạng thấp nhất trong khu vực ASEAN.
Đồng tình vấn đề trên, ông Phan Đức Hiếu nói hiện nhiều doanh nghiệp làm gì cũng nghĩ đến việc phải kẹp “bì thư” cho công chức. “Đã bao giờ chúng ta nghĩ đến chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra khi tuân thủ một từ, một câu trong quy định mà chúng ta viết ra không?”, ông Hiếu đặt vấn đề đối với công tác soạn thảo văn bản pháp luật hiện hành.
Theo số liệu báo cáo về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cung cấp, có đến 66% trong tổng số khoảng 10.000 doanh nghiệp được khảo sát bày tỏ quan ngại về các khoản phí không chính thức và tới 54% doanh nghiệp thừa nhận phải trả loại phí này. Theo các chuyên gia, chính việc nhũng nhiễu, gây khó khăn cho doanh nghiệp là một trong những nguyên nhân khiến không ít doanh nghiệp phải ngừng kinh doanh, thậm chí là giải thể.
Không dễ cắt giảm!
Theo Nghị quyết 02/2019/NQ-CP, Chính phủ giao Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm để nâng xếp hạng chỉ số chi phí tuân thủ pháp luật (gọi tắt là B1).
Để cắt giảm gánh nặng chi phí tuân thủ pháp luật, ông Phan Đức Hiếu cho rằng phía cơ quan nhà nước, khi soạn thảo quy định pháp luật, cần luôn tư duy rằng luật pháp rất “đắt đỏ”, một chữ viết ra có thể gây tốn kém hàng tỉ đồng cho doanh nghiệp. Chính vì thế, có hai câu hỏi cốt yếu cần được đặt ra và trả lời: “Liệu có cách thức nào rẻ hơn mà vẫn đạt mục tiêu quản lý không?” và “Liệu có cách thực hiện nào nhanh hơn mà đỡ tốn kém hơn không?”.

Đồng thời, các cơ quan thực thi ở các bộ và ở địa phương cần tổ chức thực thi pháp luật một cách hiệu quả như rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, đúng hẹn; ngăn chặn các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu… Ông đề xuất chính quyền địa phương cần ứng dụng triệt để công nghệ thông tin trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; công khai minh bạch thông tin trên trang web cơ quan chính quyền; thường xuyên đối thoại, nắm bắt và giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc của cộng đồng doanh nghiệp.
Ghi nhận ý kiến của các chuyên gia, đại diện Bộ Tư pháp đề nghị các bộ, cơ quan, địa phương cần tích cực, khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thực tiễn nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho các doanh nghiệp, chủ động phản ánh các khó khăn, vướng mắc, đề xuất các giải pháp mới về bộ. Đồng thời, các địa phương phải gửi báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ, giải pháp theo biểu mẫu đã ban hành trước ngày 10 của tháng cuối mỗi quí và trước ngày 10-12-2019 để bộ kịp thời tổng hợp báo cáo Chính phủ.
Tuy nhiên, đại diện các Sở Tư pháp của các địa phương tỏ vẻ lo lắng và e rằng khó có thể hoàn thành nhiệm vụ. Theo đại diện Sở Tư pháp Cà Mau, đây là nhiệm vụ quá lớn, nên đề nghị Bộ Tư pháp phổ biến rộng hơn cho các sở ngành tại địa phương như HĐND, UBND cấp tỉnh, cấp huyện thì may ra mới khả thi. Theo người này, ngành tư pháp ngày càng nhiều việc, biên chế lại giảm nên khả năng đáp ứng theo yêu cầu của bộ là rất khó.
Đồng tình ý kiến này, đại diện Sở Tư pháp Lâm Đồng, cho rằng “tiếng nói” của Sở Tư pháp với các sở ngành lâu nay rất yếu thì khó có thể tham mưu việc “đại sự” này cho UBND tỉnh.
NGUỒN: Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn
Link bài: Chi phí tuân thủ pháp luật…
(https://www.thesaigontimes.vn/288019/chi-phi-tuan-thu-phap-luat-qua-dat-voi-doanh-nghiep.html

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2019

16. Sách Âm mưu hội Tam Hoàng 2.

www.328.vn sưu tầm

VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY

Blacan Mati

1

Đợt gió bấc đã xua tan mây đen và cơn mưa ào ào của xứ nhiệt đới nổi lên hồi sáng, mãi đến chiều tối mới chịu tạnh. Bầu trời đã quang đãng. Chỉ có phía chân trời đằng Tây là hãy còn lởn vởn những đám mây xam xám. Chúng gợi cho ta nhớ đến chiếc đệm lông dường như được nhồi riêng cho mặt trời xuống ngả lưng. Những cánh rừng nhiệt đới ẩm ướt lấp lánh dưới ánh mặt trời, song cũng chẳng được bao lâu, vì một làn hơi từ mặt đất bốc lên đã nhanh chóng làm mờ những giọt nước trong vắt như pha-lê, sau trận mưa đã phủ kín khắp thảm cây cối xanh rờn của vùng nhiệt đới.
Khoảng mười lăm công nhân người Trung Quốc, người Ấn Độ, người Malaixia ngồi xổm thành hình vòng cung bên chiếc hào mới đào. Họ nghỉ tay ăn tối. Họ lặng lẽ ăn, vẻ bàng quan hờ hững, mặt cúi gằm xuống, chẳng ai để ý đến ai cả. Họ nhai tóp tép một cách ngon lành. Người Trung Quốc ăn cơm để trong bát sứ đã bạc màu, nói đúng hơn thì là đường viền vàng ở miệng bát bị bạc màu nham nhở. Họ đưa bát lên miệng, khéo léo dùng đôi đũa nâu sẫm và cơm đã trộn xì dầu vào mồm. Người Malaixia cũng ăn cơm, nhưng ăn bằng thìa và ăn với cá. Hai người Ấn Độ ngồi lánh ra xa hơn một chút. Họ từ tốn nhai nem cuốn bánh đa làm bằng loại bột gần như trong suốt. Mỗi lần ăn, họ lại chấm nem vào nước cari cay, đặc quánh, có màu nâu nâu, được rót thẳng ra một nhánh lá cọ mà một trong hai người cầm ở tay.
Người thợ đào đất trẻ tuổi đã nhanh chóng ăn xong trước tất cả mọi người, anh ta trông phấn khởi ra mặt. Anh ta nấc một tiếng khá to, khoan khoáivươn thẳng người, rồi ngó quanh tìm một người để trêu chọc. Cuối cùng, cặp mắt anh ta dừng lại nơi người công nhân gầy gò đã luống tuổi, mặc chiếc quần rách mướp, ống xắn tận đầu gối và chiếc áo kẻ bạc phếch. Chàng trai toét miệng cười, vẻ châm chọc. Anh ta quay sang phía người bên cạnh và lớn tiếng hỏi để mọi người đều nghe rõ.
- Bác Tranh ơi, nghe đâu con rồng Giao sống ở trên đảo này, có đúng không bác?
Bác Tranh - một ông lão người Trung Quốc, đầu cạo nhẵn bóng, mắt có nhài quạt, - từ từ để bát xuống mặt đất ẩm ướt và đặt đũa lên miệng bát. Ông lão thong thả đưa tay lên chùi mép, lấy tăm ra xỉa răng và cuối cùng lên tiếng:
- Ai mà biết được? Cũng có thể đấy.
Mấy người ngoái cổ lại về phía họ, chú ý lắng nghe.
- Nghe thấy chưa nào, chú Peng? - Chàng trai đào đất gọi giật người đàn ông mặc áo kẻ, chắc hẳn người này đã không nghe thấy câu hỏi của anh ta nên vẫn mải miết ăn. - Bác Tranh bảo là con rồng Giao sống ở đây đấy.
Người có tên là Peng ngước cặp mắt khiếp đảm lên nhìn anh thanh niên.
- Ôi, lạy Đức Alla! Hình như thế thì phải... Tôi cũng đã nghe người ta nói như vậy, nhưng cứ nghĩ rằng họ nói dối...
- Chính xác đấy, chính xác đấy - Chàng trai khẳng định với một vẻ quyết đoán.
- Ôi lạy đức Alla! - Peng lẩm bẩm nhắc lại.
Ông ta không thể không tin bác Tranh. Bác là một người từng trải, hiểu nhiều biết rộng và chắc chắn là bác chẳng nói dối làm gì. Vả lại, cái nhà chú Duy ấy cũng khăng khăng như vậy. Chú Duy là một chàng trai thông thạo, nghe đâu cũng biết đọc, biết viết cơ đấy. Sau khi được biết là con quái vật khủng khiếp sống ở gần đây, trong nháy mắt, Peng ăn mất cả ngon. Ông ta không buồn đụng đến chỗ cơm ở trong bát và nửa con cá đang ăn dở. Không, lẽ ra không nên ký hợp đồng với công ty xây dựng và mò ra cái hòn đảo địa ngục này. Hòn đảo mang cái tên gở cũng đủ làm Peng luôn luôn sợ run cả người. Ông ta quên sao được cái chuyện là con rồng Giao sống chính ngay tại hòn đảo này? Chính ông ta đã nghe chuyện đó bao nhiêu lần rồi. Cái nhà ông người Malaixia mê tín, nhút nhát ấy đã hốt hoảng thực sự.
Nằm cách Xingapo không xa là mấy hòn đảo mang cái tên quả là đáng sợ: đảo Blacan Mati2.
Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc và bọn Nhật đầu hàng, sống ở đảo chỉ có khoảng gần ba chục ngư dân. Họ dựng những túp lều tre, mái lợp lá cọ tại ngay chân một cái bốt cũ bỏ hoang được xây từ hồi hãy còn những người Anh. Nhưng, ít lâu sau, các ngư dân đã chuyển đi ở chỗ khác, vì nghe đâu bãi đầm lầy Blacan Mati nông choèn choèn, nhưng rộng mênh mông, tuồng như đúng là “vườn chết” thật.
Người ta đã loan truyền đủ mọi loại chuyện bịa đặt về hòn đảo này, cốt truyện ngày càng được bổ sung thêm những tình tiết ly kỳ rùng rợn: nào là ma hiện lên đi lượn lờ khắp quanh đảo, nào là ma tổ chức những cuộc chè chén linh đình trong cái bốt điêu tàn, nào là con rồng Giao đã giết hại người và những chuyện tào lao tương tự. Những chuyện đơm đặt về con rồng nghe đến ghê rợn. Người ta bảo đấy không phải là điều bịa đặt, đúng là con rồng hiện đang sống ở trên đảo và thậm chí họ còn mô tả cả hình dáng của nó một cách tỉ mỉ nữa. Khi kể tình tiết, những người kể thường thề sống thề chết về những điều mình vừa nói và dẫn ra những người làm chứng, mà của đáng tội không ai gặp bao giờ cả.
Người ta bán tín bán nghi những câu chuyện tào lao tầm phào ấy, nhất là khi nghe kể về con rồng Giao: trong một cuốn sách quý sưu tầm những truyền thuyết của Trung Quốc không thấy có đoạn nào nói đến nó cả. Song, dẫu sao thì cũng không thể kiếm được người tình nguyện làm việc lâu ở đảo. Thuyền đánh cá và thuyền độc mộc đều cố tránh mảnh đất vắng vẻ, đầy bí hiểm này. Ngay cả những nhà kinh doanh rất tháo vát ở Xingapo cũng không vội vã khai thác cái địa điểm hiển nhiên là lừng tiếng ấy, mặc dù toàn bộ các hòn đảo lân cận đều đã bị thâu tóm vào tay họ rồi.
Song, lòng tham đã vượt lên mọi thiên kiến. Một vài công ty có ý định biến Blacan Mati thành một thiên đường du lịch có đường treo trên dây cáp, có bãi tắm thần tiên và câu lạc bộ chơi gôn rất hợp thời trang dành cho giới thượng lưu với số tiền đóng góp để gia nhập câu lạc bộ là tám ngàn đô-la. Xây dựng kề bên chỗ rồng rắn đang sống không làm cho họ phải bận tâm sợ hãi. Ngược lại, những câu chuyện thần thoạiđó lại sặc mùi giật gân, vì những người thích các cảm giác mạnh chắc chắn là khoái cái hòn đảo nổi tiếng rùng rợn như vậy.
Công việc làm đất bắt đầu từ việc đào hào đặt ống dẫn nước từ Xingapo ra đảo. Hai ngày đầu công việc tiến triển chậm chạp vì đá nhiều vô kể. Sang ngày thứ ba, đất có chiều mềm hơn, do đường hào chạy dọc theo rìa đầm lầy. Tuy những người thợ đào đất chẳng thích thú bập phải đá, nhưng họ vẫn không sao tránh khỏi...
- Bác Tranh này, - Duy đưa mắt liếc về phía Peng, anh chàng vẫn chưa chịu buông tha ông ta, - con rồng Giao nó ra sao, bác nhỉ?
Duy đã nghe những chuyện ấy nhiều lần rồi và chẳng tin lấy một lời nào cả. Nhưng, lúc này gặp dịp rất thuận tiện để dọa cái nhà ông Peng nhát như cáy ấy, thì Duy đành lòng nghe lại lão Tranh thều thào kể bằng một giọng khiếp đảm và líu la líu lô - nghe nói các cụ thân sinh ra bác đã từ Quảng Đông đến đây - đủ mọi điều tào lao về các con rồng.
- Con rồng Giao ấy à? - ông lão hỏi lại, rồi chép miệng để đánh bật những hạt cơm giắt ở chỗ các răng sâu. - Con rồng Giao nó màu vàng. Vàng tuyền. Hệt như một quả chanh ấy. Dài tựa chiếc cột đèn điện. Khi bò lên bờ, nó đi bằng hai chân. Nó sống ở dưới nước hoặc trong đầm lầy.
Các công nhân khác, sau khi ăn xong cũng ngồi nghe câu chuyện tào lao của lão Tranh với một vẻ tò mò run sợ. Duy nhắc lại từng câu một, chủ yếu là để cho Peng nghe, anh chàng thích thú ra mặt mỗi khi nhận thấy ông ta sợ hết hồn.
- Đầu nó nhỏ, cổ nó thon mảnh, - lão Tranh uể oải nói, đây không phải là lần đầu tiên lão kể lại những tình tiết như vậy, - còn ở hai bên sườn có những chấm đỏ.
- Thế trên đầu nó có sừng không bác? - Anh thợ đào đất trẻ hỏi, rõ ràng là anh ta khoáichí vì đã chộp được một tình tiết khủng khiếp nữa mà anh ta biết chắc rằng sẽ làm cho đầu gối Peng run lên cầm cập.
- Rồng Truy mới có sừng - lão Tranh cãi lại, giọng sành sỏi, - rồng In có cánh, rồng Giao có vẩy. Một con nhện to tướng bám trên đầu rồng Giao, cổ rồng đeo một chuỗi đầu lâu những người bị nhện giết hại.
- Nghe thấy chưa? Một con nhện! - Duy khoái chí kêu to và quay người lại phía Peng. - Lại cả sọ người nữa cơ đấy!
Peng nhìn Duy, vẻ van nài, nhưng chàng trai được nước nói tiếp:
- Con nhện ấy nhảy bổ từ đầu rồng vào một người nào đó.
- Ôi, lạy Đức Alla! - Peng tái mặt ấp úng kêu.
- Con rồng Giao mà thở một cái thì hơi biến ngay thành mây, - lão Tranh vẫn tiếp tục tuôn ra cái câu chuyện tẻ ngắt, - nó có thể sai khiến mây đen và mưa. Khi nào mưa rào lớn, nghĩa là rồng đang đánh nhau ở trên trời. Mỗi con ngự trị một phương và sai khiến mưa đến vùng nó làm chủ. Ngày xửa ngày xưa, dưới triều nhà Hán, trời đã mưa rất to và một con rồng Giao sa xuống cung vua Hoàng Đế. Nó sát hại nhiều người. Nhà vua dùng tên tẩm thuốc độc bắn chết con rồng và rồi ít lâu sau đã bị chết một cách đau đớn.
- Nghe rõ chưa nào? - Anh chàng Duy hiếu động lại quay lại bảo Peng. - Khi nào mưa to là rồng sà xuống đất. Chắc có lẽ lúc này nó đã sa xuống một nơi nào đấy... gần đây thôi. Hẳn là xuống đầm lầy hoặc chỗ bốt ấy. Trời tối sầm hẳn lại, thử ngó hai nơi đó xem sao nào.
Nếu đốc công không từ rìa đảo đi lại thì không hiểu anh chàng Duy sẽ còn chòng ghẹo cái nhà ông Peng hốt hoảng, bất hạnh ấy đến bao giờ nữa. Đốc công nhổ nước miếng và vung tay hò hét công nhân. Bữa ăn tối đã xong từ lâu, thế mà những tên lười chảy thây này không chịu nhúc nhắc chân tay cầm xẻng.
Những người đào đất từ từ tản ra, ai nấy về chỗ của mình và bắt tay vào công việc.
Peng làm việc trong tâm trạng nửa tỉnh nửa mê và mỗi lần nghĩ đến con nhện trên đầu con rồng gớm ghiếc thì lại giật mình thon thót. Sau khi lẩm bẩm chửi công ty xây dựng một hồi, Peng lấy chiếc mũ sờn hết cả mép trông giống như một chiếc mũ tai bèo, tức mình lau khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi và rồi lại vồ lấy cuốc chim. Bẩy được hòn đá lớn lên, Peng rền rĩ vươn người, lau mồ hôi chảy ròng ròng xuống sống lưng. Sau đó, ông ta ngẩng mặt nhìn trời và sợ rúm người lại.
Mặt trời lún chìm trong chiếc đệm mây màu xám bồng bềnh, đôi lúc lại ửng hồng do ánh hoàng hôn được nhen nhóm ngay trong lòng nó. Mây chuyển màu, trông nặng nề. Nó uể oải uốn éo trên đường chân trời bị những ngọn đồi làm gãy khúc, tựa như đang nhảy một điệu múa tế lễ nhịp chậm. Và rồi toàn bộ cái khối bất định hình ấy, theo Peng, xếp thành hình con rồng và cứ bám chặt lấy mớ tóc rối tung của cánh rừng rủ từ trên một ngọn đồi xuống.
Chẳng thấy cái hình ảnh này, nhà ông người Malaixia cũng đã sợ chết khiếp rồi, ông ta coi đây là một điềm gở và nghĩ rằng chẳng phải vô cớ mà người ta lại gọi hòn đảo là “vườn chết”, ông ta liền tụng kinh và khấn lia lịa.
- Này chú Peng ơi, sao thế, trông thấy con rồng Giao à? - Duy làm gần chỗ ông ta thấy vậy bèn lên tiếng hỏi. - Liều liệu đấy, kẻo nó tha chú xuống đầm hết chạy.
- Nó kia kìa, - ngón tay Peng run run chỉ lên trời.
- Gì cơ?
- Con rồng ấy, - Peng suýt òa lên khóc.
Anh thanh niên giả bộ chăm chú ngắm nghía đám mây.
- Đúng rồi, nó kia kìa, Không trông thấy à? - Peng thì thầm.
- Có chứ! Thấy cả con nhện ở trên đầu nó nữa, - Duy quay lại bảo người công nhân đang vểnh tai hóng chuyện của hai người và điệu bộ lấy ngón tay ngoáy ngoáy cạnh thái dương.
Peng bặm môi tức giận và lại vừa đào vừa khấn Đức Alla phù hộ cho ông ta tránh được hiểm họa.
Sau khi mặt trời lặn, con rồng đen sạm lại. Một lát sau, núi đồi, đầm lầy, những người thợ đào đất đang đều đều xúc xẻng, bổ cuốc, tất cả đều cùng hòa vào đêm tối.
Tiếng động cơ nổi lên, ánh đèn pha xanh dịu xuống đường hào. Peng đưa mắt nhìn chỗ mặt đầm lầy đang lung linh lóe sáng và chợt nhớ lại từng lời những điều đã được nghe kể về ánh ma trơi trong “vườn chết”. Ông ta run bắn người. Ông ta chửi rủa tuốt tuột, kể cả bản thân nữa vì đã bùi tai nhận lời ra đây. Peng hằn học quẳng cuốc chim đi và lại vớ lấy xẻng san đất. Sau đó, ông ta xúc xuống sâu hơn, đất ở lớp dưới xem ra bở ăn hơn.
Nhưng xẻng bỗng chạm phải một vật gì răn rắn.
“Đá chết tiệt!” - Peng rủa thầm, rồi xắn sang bên cạnh.
Xẻng lại tuồn tuột ăn vào đất. Peng xắn quanh vật rắn mà ông ta cho rằng đó là một tảng đá. Và thật là khủng khiếp - trước mắt cái nhà ông người Malaixia là một chiếc sọ người.
- Vườn chết! Vườn chết! - Peng gào lên và vất tung cả xẻng lẫn cái vật vừa đào được.
Sọ người lăn theo sườn hào xuống chân ông ta.
- A-a! Nó vẫn còn sống! A-a! - Peng sợ phát điên lên và thục mạng tháo chạy.
Rõ ràng là sau khi nghe lão Tranh kể chuyện tào lao thì không chỉ một mình Peng mới cảm thấy ngao ngán cái chỗ này: các công nhân cùng một lúc đổ dồn mắt vào chỗ có tiếng kêu thét vừa nổi lên và sẵn sàng chuẩn bị chạy tháo mạng.
- Sọ người! - Peng gào lên và nhảy phốc qua mô đất, - Nó vẫn còn sống! Vườn chết! Con rồng Giao!
Hai tiếng “sọ người” dù có lạ kỳ thật đấy, nhưng đã khiến cho một số thợ đào đất cảm thây phần nào yên tâm. Vẻ tò mò đã thay thế cho cái nhìn lo sợ trong ánh mắt của nhiều người. Duy chẳng tin một điều kỳ lạ nào cả, anh tiến đến bên chiếc sọ và đứng ngắm nghía.
- Một chiếc sọ bình thường như trăm ngàn cái khác, - anh chàng giảng giải, giọng khinh khỉnh ngao ngán.
Câu nói đó đã làm cho sự căng thẳng bao trùm khắp hào dịu lắng.
- Xì, đồ ngốc! - Lão Tranh dịu dàng nhiếc và bực mình ấn xuống xẻng xuống đất.
Nhưng, ngay sau đó một lúc, có tiếng mấy người nhao nhao:
- Xương người!
- Đây cũng có này!
- Lại một bộ nữa này!
Trong mấy phút đã phát hiện ra gần mười bộ xương người chôn bên đầm lầy. Một số nằm ở tư thế không bình thường. Việc đào hào phải ngừng lại. Công nhân sôi nổi bàn tán về những điều mắt thấy.
Nghe tiếng ồn ào, tên đốc công vội chạy lại.
- Sao thế, bọn bay chưa bao giờ được thấy xương người đấy chắc? - Hắn quát tháo đám thợ đào đất khi biết rõ chuyện. - Đồ lười chảy thây! Quân khố rách áo ôm khốn khổ! Chỉ tìm cách lẩn việc! Cái nghĩa địa bỏ hoang, chứ có gì mà rối cả lên! Về chỗ đào ngay! Người ta đã đổ bao nhiêu tiền của trả công cho các người để làm gì nào?!
Công nhân miễn cưỡng phục tùng. Ai cũng biết rằng đây không phải là một nghĩa địa như những nơi khác, nhưng chẳng ai muốn tranh cãi với tên đốc công làm gì: nào có ai muốn mất cái khoản tiền công hậu hĩnh đâu?
Peng đứng cách hào khoảng năm chục thước. Ông ta mặt mày tái mét và thở hổn hển. Trông thấy người thợ đào đất bỏ việc, tên đốc công liền nổi cơn thịnh nộ. Hắn gào:
- Đồ nhát như cáy! Quân lười biếng chết tiệt! Nói mày như nước đổ lá khoai đấy hả?!
Peng lưỡng lự tiến về chỗ của mình.
- Nhúc nhắc chân tay lên nào, người đâu mà không bằng một tên nhãi nhép! Đồ lười!
Công việc lại đâu vào đấy. Ai nấy cau có im lặng đào. Chỉ còn nghe thấy tiếng xẻng cọ vào đá kêu kèn kẹt và tiếng cuốc chim bổ phầm phập.
Bỗng có tiếng người nói như bị tắc nghẹn:
- Trông đây này!
- Xem chán rồi, - người ta càu nhàu đáp.
Nhưng người vừa nói liền chìa bàn tay run rẩy và lắp bắp nhắc lại:
- Trr-ông đây này!
- Lại chuyện gì vậy?
- Không phải bộ-ộ-xư-ương đâu. Người hẳn hoi!
Cánh thợ đào đờ người ra.
- Có người bị vùi! - Duy hốt hoảng kêu.
Tiếng rì rầm nổi lên lan dọc khắp hào. Thợ đào rón rén tiến lại gần chỗ vừa được chỉ. Họ trông thấy một đôi chân đi giày cao cổ và mặc quần màu xám sẫm thò ra khỏi lớp đất.
- Chà - à, một vụ án mạng! - Lão Tranh thì thầm và hốt hoảng cau mày.
Và liền ngay sau đó, có người kêu to:
- Lão đốc công đến đấy!
- Chúng ta sẽ không đào nữa!
- Cho gọi cảnh sát đi!
Peng sợ bủn rủn cả chân tay, đứng không vững, nên ngồi phệt ngay xuống đất, rồi lè nhè nói, giọng khản đặc:
- Tôi biết mà, biết là sẽ có chuyện mà! Tôi dã trông thấy con rồng! Lạy Đức Alla! Phải rời khỏi nơi này thôi! Nếu không thì lại trở thành người thiên cổ mất! Vườn chết! Lạy Đức Alla, mong Người hãy cứu vớt chúng con!
- Câm đi! - Người ta quát ông ta.
Nhưng Peng vẫn tiếp tục lẩm bẩm, ông ta không nghe thấy gì và cũng chẳng nhìn thấy gì cả.
Khi gã đốc công đến, công nhân liền im bặt. Gã định mở mồm quát những người thợ đào đất, nhưng qua nét mặt họ, gã hiểu là có chuyện bất thường gì đây. Công nhân đứng giãn ra dành lối cho gã tiến vào. Trông thấy đôi chân thò ra khỏi lớp đất, gã đốc công đứng sững lại, không dám tiến đến gần nữa.
- Cho gọi cảnh sát đi, - có tiếng người khẽ nói ở sau gã.
- Cứ làm như không có nhà anh thì người ta không biết xoay xở ra sao cả ấy, - đốc công hầm hầm đáp.
Cảnh sát khu vực và sau đó là nhân viên ban hình sự đã có mặt ở đảo.
Viên thanh tra lùn tịt, mặt càu cạu vẻ khó chịu, tiến đến bên hào, nhìn đôi chân thòi ra khỏi lớp đất, rồi hất hàm ra lệnh cho người của hắn. Một người chạy lại, giơ máy ảnh lên. Ánh đèn manhê lóe sáng. Hai người khác loay hoay xem xét chỗ đất quanh xác chết. Người thứ tư, tay xách chiếc vali nhỏ - giám định y khoa - đứng chờ lệnh.
Một nhân viên cảnh sát đeo lon trung sĩ tiến lại bên hào.
- Thưa ông thanh tra, chúng tôi từ đồn khu vực đến đây đã được nửa tiếng rồi...
- Ai phụ trách ở đây? - Viên thanh tra không đoái hoài tới người trung sĩ, quay lại hét to hỏi cánh thợ đào đá đang đứng túm năm tụm ba.
Gã đốc công tiến lên mấy bước.
- Thưa ông thanh tra, tôi ạ...
- Quật lên, - viên thanh tra chỉ vào cái xác.
Gã đốc công gọi hai công nhân mang xẻng lại gần và những người này miễn cưỡng đào.
- Tiến hành công việc từ mấy hôm nay rồi? - Viên thanh tra hỏi đốc công.
- Thưa ông thanh tra, sang ngày thứ ba rồi ạ, - đốc công vội đáp.
- Đêm công nhân ngủ lại hay rời khỏi đây?
- Thưa ông thanh tra, họ được đưa về đất liền, không một ai ở lại đây cả.
- Thế người gác thì sao?
- Dạ dạ, tất nhiên là có người gác...
- Thế mà lại bảo là “không một ai”, - viên thanh tra tức giận nói.
Đốc công chớp chớp mắt, vẻ có lỗi.
- Người gác đâu?
- Dạ, nó sắp tới. Tối người ta mới cho nó ra gác đêm ở đây.
- Ông thanh tra! - Một thám tử lên tiếng gọi. Anh ta chăm chú quan sát chỗ đất dưới chân mình đang đứng nằm cách đường hào khoảng hai chục thước. - Đất ở đây cũng tơi. Chắc hẳn có cái xác thứ hai?
- Ông có cho đào chỗ đó không? - Viên thanh tra hỏi đốc công.
- Thưa ông thanh tra, không ạ. Theo kế hoạch thì đường hào chạy qua về phía bên phải.
- Quỷ thật! Nếu cứ cách vài thước lại bới thấy một xác chết thì...
Viên thanh tra không nói hết xem quả đúng như vậy thì sẽ ra sao. Ông ta tiến đến bên một người dưới quyền mình. Công nhân kéo theo sau ông ta. Viên thanh tra quay lại quát tướng lên:
- Các anh đi theo làm gì thế này, hả?! Trung sĩ, hãy thi hành nhiệm vụ của mình đi, khỉ gió nhà các anh!
- Xin tuân lệnh!
Viên trung sĩ xô vào ngực Duy đang lách người len lên.
- Quay lại đi! Nhanh lên, nhanh lên! Ở đây có quái gì đâu mà phải nhòm ngó! Khi nào cần người ta sẽ gọi. Mọi người rời khỏi nơi này ngay!
Đám thợ đào đất phục tùng một cách miễn cưỡng, vì trừ nhà ông nhát gan Peng ra, ai cũng tò mò muốn ngó xem sao.
Viên thanh tra quan sát chỗ đất mà người thám tử chỉ cho, rồi gọi đốc công:
- Cho thêm hai công nhân nữa nhé!
Duy lao lên.
- Thưa ông thanh tra, ông cho phép tôi chứ?
- Ai đào mà chẳng được! Có điều khẩn trương lên. Không khéo phải ngủ lại ở cái hòn đảo chết tiệt này chưa biết chừng!
Anh thợ đào đất trẻ tuổi xách xẻng chạy bổ đến chỗ viên thanh tra. Một công nhân nữa chạy theo sau anh ta.
Đúng lúc đó, chiếc điện đài xách tay đeo ở thắt lưng cạnh sườn viên thanh tra nổi lên những tiếng rú rít nhẹ và kéo dài, rồi phát ra một giọng càu nhàu:
- Ông thanh tra, ông ở đâu thế, quái quỷ thật!
Viên thanh tra vội đứng tránh ra một chỗ, vì ông ta không muốn rằng đã thế rồi lại còn để mọi người nghe thấy ông ta sẽ bị chỉnh.
- Dạ thưa ngài, tôi nghe đây!
- Tôi đã ra lệnh cho ông phải bắt liên lạc với tôi từ ngoài đảo cơ mà. Hay ông coi lệnh của tôi chẳng ra cái quái gì?
- Dạ, thưa ngài, tôi vừa mới đặt chân lên đảo.
- Tôi hoàn toàn không cần biết ông tới đảo lúc nào. Chỗ ông ra sao rồi?
- Dạ, chúng tôi đã phát hiện ra khoảng một chục bộ xương và, hình như là, hai xác chết nữa.
- Dừng có mà tìm cách lừa tôi. “Hình như” nghĩa là thế nào?
- Công nhân đã bới được một xác, còn chúng tôi đã phát hiện một chỗ, từa tựa chỗ vừa mới chôn người. Mấy phút nữa tôi sẽ bắt liên lạc với ngài...
- Lại một xác nữa! - Duy kêu lên. - Tay thò ra đây này!
- Dạ, thưa ngài, đúng là hai xác ạ, - viên thanh tra nói vào máy. - Dạ, tôi không rõ, cũng có thể là hãy còn nữa. Chúng tôi chưa kịp xem xét tất cả mọi chỗ.
- Hừm... Thế này nhé... Ngư-ừng đào bới đi!
- Thôi, không đào nữa! - Viên thanh tra hét bảo công nhân, rồi hạ giọng khẽ hỏi:
- Thưa ngài, tại sao ạ?
- Ông Alan sẽ lại tuyên bố là chúng ta gây khó dễ cho công việc của ông ấy. Nghĩa địa cũ, đây chắc là có bàn tay của các hội bí mật. Tôi tin chắc là như vậy đấy.
- Dạ, xem, ra cũng đúng thế đấy, - viên thanh tra tán thành.
- Thôi, cứ để cho C.I.U. bắt tay vào cái nghĩa địa này từ đầu. Đó là công việc của họ. Để đội bảo vệ ở lại ngoài đảo và quay về đi. Một đêm thì ở đấy sẽ chẳng có gì thay đổi đâu. Sáng ra ta sẽ báo cho Alan.
- Dạ, vâng ạ! Chúng tôi sẽ rời khỏi đảo.
Viên thanh tra quay lại chỗ đường hào.
- Trung sĩ, anh và người của anh sẽ ở lại đây. Không được để cho một ai vào nghĩa địa cả. Ngày mai sẽ điều tra sau.
- Thưa ông thanh tra, chúng tôi hết nhiệm vụ trực rồi, - trung sĩ ngập ngừng nói, - chúng tôi...
- Tôi không có nhiệm vụ phải canh gác những người chết này đâu. - Viên thanh tra nổi khùng lên. - Hãy bắt liên lạc với đồn của anh và yêu cầu người ta cử người thay.
- Thế còn chúng tôi thì sao? - Gã đốc công hỏi.
- Các anh ấy à? Tạm thời các anh hãy cuốn gói... Nhớ để lại địa chỉ. Khi nào cần người làm chứng, chúng tôi sẽ cho tìm các anh sau. Tạm thời phải đình công việc lại. Chúng tôi sẽ báo cho công ty biết khi nào lại có thể tiếp tục công việc.
Viên thanh tra quay ngoắt đi về phía ca-nô. Mấy người kia nối đuôi nhau theo sau ông ta.

2


Patrick Lô gấp cuốn sách dày cộp đã sờn hết cả bìa, châm thuốc hút và ngả người ra lưng ghế. Anh nhắm mắt lại, cố hình dung ra ngôi chùa Thiếu Lâm, vụ tàn sát mà quân Mãn Châu đã gây ra ở trong chùa, năm vị sư đã uống máu ăn thề, A Sát bò trên các phiến đá trong nhà nguyện để tìm kho báu...
Thật khó mà tin được rằng những buổi lễ rùng rợn của Hội Tam Hoàng, những cái tên dài dằng dặc và cầu kỳ mà các nhà sáng lập ra hội đã đặt cho mình, những bộ quần áo kỳ quặc lại có thể du nhập từ thế kỷ mười bảy sang thế kỷ hai mươi. Khó tin rằng tất cả những chuyện đó xảy ra không phải trên màn ảnh, trên sân khấu, mà là trong cuộc đời, trong các thành phố hiện đại, với những ngôi nhà chọc trời, biển quảng cáo bằng đèn nê-ông, với những dãy ô-tô nối đuôi nhau chạy không lúc nào ngừng. Tóm lại là với toàn bộ các đặc trưng nhất thiết phải có của thế kỷ này.
Patrick Lô vào làm việc tại Criminal Intelligence Unit, đọc vắn tắt là C.I.U. - cơ quan mật đấu tranh chống các hội kín ở Xingapo - được khoảng mười năm nay, với tư cách là một thám tử bình thường. Hồi đó anh mới hai mươi hai tuổi. Chàng trai quá ư nhút nhát (sau này, tính nhút nhát, rụt rè của anh đã bớt đi nhiều) và dễ mến đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của người phụ trách C.I.U., và quan trọng hơn, của sếp một ban là Téon Alan - người có uy tín và thế lực ở trong cục không kém gì chính sếp Criminal Intelligence Unit. Chỉ mới sau một năm, Lô đã được nhận chức thanh tra.
Lô nhảy nhanh như vậy không chỉ đơn thuần do anh được Alan che chở, mặc dù không thể bỏ qua được sự giúp đỡ của ông. Anh chàng thám tử trẻ tuổi là một người thông minh, nhanh nhẹn, kiên quyết, đã làm việc gì là làm cho đến cùng. Tóm lại, các phẩm chất ấy đã được Alan đánh giá cao, mặc dù Lô không ở trong ban ông. Dần dần viên thanh tra càng có thêm nhiều kinh nghiệm, càng thêm chín chắn, kiên nhẫn, tuy các sếp đôi lúc cũng phải kìm bớt tính hăng hái, xốc nổi của người nhân viên dưới quyền mình.
Lô không lạm dụng lòng tin của cấp trên. Những người xung quanh thích tính dễ dãi, hóm hỉnh của anh. Ai nấy đều coi việc anh được đề bạt là một điều tất nhiên, tuy nhân viên C.I.U. thường hay ghen ăn tức ở với đồng nghiệp khi họ được cất nhắc trên nấc thang cấp bậc.
Là một người thích vui nhộn, say mê đủ thứ, đặc biệt là phái đẹp, song anh chàng người Hoa độc thân có cái tên chẳng Hoa chút nào này rất nghiêm túc với công việc. Nếu anh đã bắt tay vào việc, thì anh ăn không ngon, ngủ không yên chừng nào chưa gỡ tung hết tất cả các mối, hoặc chưa tin chắc rằng có tìm kiếm nữa cũng chẳng giải quyết được gì. Trong những lúc như vậy anh không thiết gì đến chuyện trai gái, nghỉ ngơi. Mấy năm gần đây, nhóm do anh phụ trách đã phát hiện một số đầu mối và tìm ra một trong những hội bí mật ở Xingapo và đã tóm gọn cả ổ.
Cách đây một tuần lễ, khi viên thanh tra ở ban của Alan đang theo dõi hội bí mật lớn nhất tại Xingapo - Hội Tam Hoàng - về hưu, thì Alan không cần phải đắn đo suy nghĩ lâu xem ai sẽ thay thế viên thanh tra đó. Ông đã thuyết phục được thủ trưởng C.I.U. chuyển Patrick Lô về ban ông. Chuyện đó không làm ai ngạc nhiên, vì trong cục, ai cũng đều biết rõ mối quan hệ thân thiết giữa Alan và Lô.
Các hội bí mật đã tồn tại ở các nước vùng Đông - Nam Á từ thế kỷ trước, khi hàng trăm ngàn người từ Trung Hoa chạy ra sống tại những nơi đất khách quê người để mưu cầu một cuộc sống tốt đẹp hơn. Mới đầu các hội này tồn tại dưới hình thức các nhóm tự vệ và giúp đỡ lẫn nhau. Thành viên của các hội đó gọi các tổ chức của mình là các Hội Tam Hoàng, một mặt là do sự gắn bó của những người Trung Hoa đối với các truyền thống của tổ tiên, mặt khác là nhằm để nhấn mạnh rằng họ cũng theo đuổi các mục đích cao cả như Hội Tam Hoàng mà trong suốt hai thế kỷ rưỡi đã tiến hành cuộc đấu tranh chống ách đô hộ của quân Mãn Châu.
Song, dần dần việc kiểm soátcác nhóm này hoặc là nằm trong tay những kiều dân giàu có, hoặc những kẻ gian xảo và chúng đã lợi dụng thành viên Tam Hoàng vào những mục đích vụ lợi. Những Hội Tam Hoàng đã biến chất, sa vào con đường kinh doanh tội lỗi. Hoạtđộng chủ yếu của chúng là cướp bóc, tống tiền, buôn lậu.
Các tổ chức này lại càng hoạtđộng ráo riết hơn nhiều kể từ sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai chấm dứt. Khoảng hai chục năm trước đây, ở Xingapo đã có trên một trăm hội bí mật.
Trong những năm đầu, C.I.U. đã đảm nhiệm tốt nhiệm vụ của mình, cụ thể là, trong có mấy năm đã bắt giam gần bảy trăm tên đầu sỏ và lâu la của các tổ chức tội lỗi. Trong số này, có ba tên tư bản tài chính có tên tuổi ở trong nước. Chúng bị bắt vào tháng 5 năm 1969, khi nhà cầm quyền quyết định tịch thu Trung Hoa Ngân hàng - Ngân hàng này thực tế là chi nhánh của Trung Hoa quốc gia ngân hàng ở Xingapo - về tội “vi phạm pháp luật của nước cộng hòa”. Cả ba tên doanh lợi đã dính vào những vụ “áp-phe” của ngân hàng. Mới đầu Bộ Nội vụ theo dõi các chủ ngân hàng, nhưng sau khi đã phát hiện ra là bọn này có quan hệ với hội bí mật mang tên Hắc Liên thì C.I.U. liền bắt tay vào việc điều tra.
Cuối những năm sáu mươi, ở Xingapo chỉ còn bảy hội bí mật lớn: Tam Hoàng, Phục Nguyệt Hội, Hắc Mi Hội, Hắc Liên, Thăng Long, Huynh Đệ Trường Đao và Gươm Trừng Phạt.
Hội đông nhất và nguy hiểm nhất là Tam Hoàng. Nó tụ tập đủ mọi tầng lớp người trong xã hội, từ những nhà kinh doanh có tên tuổi đến phu xe và những kẻ lang thang không nhà không cửa. Thậm chí là cả cảnh sát cũng có chân trong hội. Cái hội tội lỗi này có một cơ cấu tổ chức hết sức bí mật, có luật lệ riêng, tòa án và đao phủ riêng để thi hành các bản án. Nó tuân thủ nghi lễ của Hội Tam Hoàng cũ để đảm bảo sự nhất trí trong nội bộ. Phạm vi hoạt động của nó rất lớn: từ buôn vàng, ngoại tệ, ma túy và “hàng sống” đến tổ chức các vụ cướp ở vùng biển Đông. “Tam Hoàng” có quan hệ với các hội bí mật ở Hồng Kông, Ma Cao, Thái Lan, Philippin...
Patrick Lô châm thuốc hút và lại chăm chú giở tập hồ sơ mà người phụ trách trước đã trao cho anh.
“Một tổ chức chặt chẽ, - Lô thầm nghĩ, khi anh xem qua sơ đồ cấu trúc của Tam Hoàng. – nó không như bọn Vô mà chúng mình đã thanh toán dạo mùa hè”.
Căn cứ vào sơ đồ, Tam Hoàng gồm có năm bộ phận mà theo ngôn ngữ của bọn găng-xtơ gọi là băng. Không rõ tên gọi chính xác của các băng là gì, nhưng dựa vào ngôn ngữ lạnh lùng của cảnh sát thì chúng được gọi là các bộ phận: giáo dục, bảo vệ, thông tin, tuyển mộ và liên lạc. Mỗi băng do một thủ lĩnh Tam Hoàng cai quản. Chúng xây dựng cơ cấu như vậy rõ ràng là để duy trì trật tự trong nội bộ. Công việc chủ yếu của hội này là: buôn lậu, tống tiền, cướp biển và tất cả các băng đều tham dự vào các vụ như vậy.
Lô giở sang trang sau ghi chép tên gọi, cấp bậc, trách nhiệm của các tên đầu sỏ. Cả một trang giấy được ghi bằng nét chữ đậm và hơi ngoằn ngoèo:
“Hoàng Long - đứng đầu tổ chức. Nắm toàn bộ quyền hành, mặc dù, theo điều lệ Tam Hoàng, mọi vấn đề đều phải được đưa ra giải quyết tại cuộc họp của đại diện các băng, gọi là hội lễ. Không rõ định kỳ các hội lễ này.
Thủ Tự - nhân vật thứ hai trong Tam Hoàng. Là sư của hội bí mật. Phụ trách nghi thức trong các hội lễ. Không có quyền hành thực sự, nhưng được hưởng một phần đáng kể số của kiếm được.
Bạch Phiến Chỉ - nhà lý luận của Tam Hoàng, cầm đầu bộ phận giáo dục. Rất có quyền hành. Có tay chân gài vào các băng khác, do đó biết rõ tâm trạng của các hội viên bí mật và các mối quan hệ qua lại của họ. Thường gặp Hoàng Long, có tác động đến các quyết định của tên này.
Hồng Trượng - cầm đầu bộ phận bảo vệ. Bọn cướp biển và nhóm chiến đấu nằm dưới sự chỉ đạo của hắn. Nhóm chiến đấu thanh trừng các tổ chức cạnh tranh, thi hành bản án xử bọn phản bội, yểm hộ những hội viên khác của Tam Hoàng khi chúng đang hành sự. Cầm đầu bọn vệ sĩ của Hoàng Long, mặc dù tên này, theo một số nguồn tin, có vệ sĩ riêng gồm những tên mà bọn cầm đầu khác không hay biết.
Thảo Hài - chức danh thấp nhất trong bọn cầm đầu. Phụ trách bộ phận liên lạc. Quyền hạn của hắn là tổ chức những cuộc tiếp xúc giữa các tên cầm đầu và các băng. Không có quyền hành thực tế.
Bộ phận thông tin. Chưa rõ tên nào cầm đầu. Bộ phận này theo dõi các tổ chức cạnh tranh, tìm hiểu các khả năng và điều kiện tổ chức hoạt động. Theo một số nguồn tin, nó có người nằm trong cảnh sát hình sự, các đồn cảnh sát khu vực để kịp thờ
...còn tiếp...

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2019

15. Sách Âm mưu hội Tam Hoàng Tập 1

Lời thề trong chùa

www.328.vn sưu tầm

VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY

Mấy tiếng chuông âm vang dội lên sau bức tường đá thấp lè tè của chùa Thiếu Lâm. Tiếng chuông não nùng, uể oải chơi vơi một giây lát trong không trung, sau đó từ từ vọng ra khỏi chùa, vượt qua cánh rừng liễu mọc ngay sát chân tường, qua những thửa ruộng bậc thang trồng lúa trông tựa những nấc thang khổng lồ cuốc trên khắp các sườn núi, rồi chìm vào tấm thảm nhung xanh rờn của cây cối ở một nơi nào đó trên các đỉnh núi...
Dùng bữa tối và đèn nhang xong, các nhà sư từng nhóm một từ trai phòng của mình kéo đến nhà nguyện. Họ thì thầm hỏi nhau không biết tiếng chuông triệu tập đột xuất vừa nổi lên có ý nghĩa gì.
Vài phút sau, sân chùa vắng ngắt. Đã sang canh hai. Đúng lúc tiếng chuông điểm canh vừa vang lên thì có bốn nhà sư rời khỏi nơi tịnh trai nằm khuất sâu trong chùa. Một người đảo mắt nhìn quanh và sau khi đã tin chắc rằng họ không bị ai theo dõi, mới vẫy gọi mấy người kia. Bốn người vội vã chạy băng qua sân và biến mất ở phía cổng.
Mái tam quan xiêu vẹo với hàng chữ Tĩnh tâm trí tự, những bức tường hoen ố, có chỗ bị lở mất nửa khu vườn bỏ hoang cỏ mọc um tùm, nhà cửa lâu nay không được sửa sang quét vôi lại, nghĩa trang nơi các nhà sư yên nghỉ không ai nhòm ngó chăm sóc, cảnh vật này cho ta thấy rõ chốn thánh địa đang ở vào thời kỳ suy vong.
Có một thời, nơi đây đã từng là chốn nghênh tiếp cực kỳ long trọng dành cho các bậc quyền quý ở địa phương, từ tỉnh bạn và từ các vùng nông thôn lân cận kéo đến, là chỗ diễn những vở múa rối, hát bóng, là địa điểm tổ chức tết Nguyên Tiêu và những ngày hội ngay hè náo nhiệt. Song tất cả những chuyện đó đã lùi vào dĩ vãng. Năm 1644, nhà Minh đã bị sụp đổ trước sức tấn công của giặc Mãn Châu. Nhiều thành phố bị san thành bằng địa, biết bao vùng tịnh không một bóng người. Cơ man nào là đầu người đã lìa khỏi xác bị dùng làm vật tô điểm khủng khiếp cho con đường tiến quân của bọn xâm lược. Quân ngoạibang hành hạ cả những người đã khuất. Bọn chúng đào mồ những ai khi sống không chịu khuất phục chúng, chặt đầu và thiêu xác họ, dùng tội tử hình để buộc đàn ông phải theo phong tục của người Mãn Châu là tết tóc và cạo trọc một mảng đầu nhằm mục đích lăng nhục những kẻ bại trận. Ở nông thôn, bọn quan lại cai trị mới đã đề ra luật lệ liên đới bảo lĩnh khắt khe, đó là chế độ bảo giám. Tố giác, truy nã, nhục hình, xử tử đã trở thành một đặc trưng có tính chất tập tục trong đời sống ở nông thôn, hệt như việc thờ cúng tổ tiên vậy.
Giặc Mãn Châu đặc biệt lo ngại giới sư sãi, chúng coi họ là những cái ổ gây phiến loạn và lộn xộn. Đền chùa, từ bao thế kỷ nay không những đã trở thành trung tâm tôn giáo, mà còn là trung tâm văn hóa của Trung Hoa, giờ đây đã bị suy vi.
Chùa Thiếu Lâm cũng trở nên hoang tàn. Còn đâu nữa những bữa tiệc linh đình đủ cả sơn hào hải vị nấu theo kiểu Trung Hoa mà từ xa người ta đã ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt. Các thi sĩ không còn ghé qua nơi đây ngâm những bài thơ của mình trước đám thính giả đầy lòng ngưỡng mộ. Dưới mái chùa không còn vang lên tiếng sáo trúc du dương được nhân dân ưa thích, cũng chẳng còn những âm thanh dịu dàng, êm ái của cây đàn tì bà và tiếng cồng đá nhịp nhàng ngân vang. Các vùng xung quanh chẳng còn thấy nổi lên tiếng ồn ào, náo nhiệt của đám người đông đúc kéo đến dự những ngày lễ hội. Thậm chí những kẻ hành hương nghèo khổ cũng không thể tìm được một chỗ nương náu ở nơi đây như trước nữa. Giặc Mãn Châu nghiêm cấm tụ họp. Chúng bắt bất kỳ một ai mà chúng tình nghi.
Nước Trung Hoa dần dần tàn lụi dưới ách của triều đại Mãn Thanh.
Song, sau khi chiếm được ngôi báu của đất nước Trung Hoa, quân Mãn Châu không thể ăn ngon ngủ yên, truy hoan ca mừng thắng lợi. Ngay từ những ngày đầu, ách thống trị của ngoại bang đã gây phẫn nộ ở khắp trong nước. Kỵ binh của quân Mãn Châu đã vấp phải sức kháng cự kiên cường của đội quân do vị anh hùng Sĩ Kỳ Phan lãnh đạo, khi chúng đến tới bờ sông Hoàng Hà. Ba hoàng thân của nhà Minh bị lật đổ đã dấy lên cuộc đấu tranh ở phía Đông - Nam và Tây - Nam. Những đội nghĩa quân Lý Đính Ngô tiếp tục cuộc đấu tranh này. Cuộc khởi nghĩa của Tam quận vương chư hầu ở phương Nam bùng nổ. Họ không chịu quy phục. Quân Mãn Châu quyết định chấm dứt tình trạng nguy hiểm đối với việc nắm quyền của chúng. Chúng ra lệnh giải tán các đội quân của những quận vương, song không ai chấp hành lệnh này.
Trong nông dân, tại các đền chùa bắt đầu thấy xuất hiện các tổ chức bí mật như: Huynh Hội, Bạch Huệ, Thiên Địa Hội... Họ được nhân dân rất quý trọng, vì đã đưa ra khẩu hiệu: Phế Thanh, phục Minh.
Một trăm lẻ tám nhà sư của chùa Thiếu Lâm đã sống rất mẫu mực. Họ mãn nguyện với việc tụng kinh, ăn chay và ít khi rời khỏi nơi tụng niệm. Nhưng vẻ thuần phục và hờ hững với công việc trần tục tạo nên không khí thanh bình và bằng lặng ở trong chùa chỉ là cái vỏ che đậy mà thôi. Thực ra dưới mái chùa người ta đang ngấm ngầm hoạch định những kế sách đấu tranh chống quân ngoại bang ở các vùng đất phía Nam. Các nhà sư tổ chức một hội kín theo đúng quan niệm của nước Trung Hoa cổ xưa về ba lực lượng cơ bản của thế giới; thiên hoàng, địa hoàng và nhân hoàng. Hội này được mệnh danh là Tam Hoàng.
... Nhà nguyện chật chội và ngột ngạt. Các sư ngồi san sát bên nhau ở dưới sàn. Mấy chú tiểu không tìm được chỗ đành ngồi ngoài bậc thềm bằng đá đã bị rạn nứt.
Trên bàn thờ đặt pho tượng nhỏ bằng đồng tạc hình Khổng Tử, bát hương và hai cây nến. Tường có treo bức tranh Quan Vũ ngồi uy nghi, đầu đội mũ trụ, tay khoanh trước ngực, ria dài và thưa rủ xuống hai bên mép. Quây quanh Quan Vũ là đoàn hộ giá gồm: một viên quan, một tên lính vác giáo, hai tráng sĩ có khuôn mặt giống hệt nhau. Một người tay cầm thỏi bạc, người kia cầm gươm và sách. Hai bên bức tranh treo hai hàng câu đối có chữ thiếp vàng ghi điển lễ cầu nguyện của Hội Tam Hoàng và những vần thơ chống Mãn Châu. Trên các bức phướn màu vàng treo ở mấy góc phòng có thêu khẩu hiệu bằng chữ đen: Phế Thanh, phục Minh. Trước bệ thờ đặt các bát hương to hơn, hương thắp bốc khói ngào ngạt. Hương cháy từ từ, tỏa khắp căn phòng mùi trầm thơm ngọt lịm. Quanh phòng thắp đầy nến, ánh lửa hồng lập lòe nhảy nhót trên những khuôn mặt nhợt nhạt, xám ngoét của các vị sư.
- Chư đệ! - Sư trụ trì, một ông lão khô đét, nét mặt nhăn nheo, râu thưa, cổ ngẳng như cổ cò, kêu gọi những người đang có mặt ở trong phòng. - Lũ quân Thanh hung bạo đã xâm chiếm Tổ quốc ta. Lẽ nào lại có thể dằn nén được lòng căm thù bọn ngoại bang? Chúng xéo nát mùa màng của ta, xúc phạm nơi thờ cúng của ta, nhạo báng đồng bào ta. Nghĩa vụ của mỗi người chúng ta là đấu tranh chống quân Mãn Châu đáng căm ghét. Song Trời, Đất đâu có sinh ra những con người cùng một loại như nhau. Có những người tốt và trung thực, họ sinh ra theo định mệnh của số phận tốt lành. Những kẻ độc ác sinh ra là do lệnh của số kiếp tai ác. Chùa của chúng ta lúc nào cũng trong sạch và minh mẫn. Nhưng, một tia độc ác và gian ngoan mảnh mai như sợi tơ tằm lọt qua vòm mái chùa ta. Loại sâu độc tham lam đã đục khoét tâm hồn một người trong chúng ta. Hắn phản bội những người anh em đã cùng hắn san sẻ miếng cơm, ngụm nước suốt bao năm nay.
Tiếng rì rầm phẫn nộ lan khắp các hàng người đang ngồi ở dưới sàn. Ông già giơ bàn tay xương xẩu lên, cả nhà nguyện im phăng phắc.
- Hắn đã che đậy được bộ mặt phản bội đê tiện của mình cho mãi đến tận ngày nay. Song, nếu đất không vững chắc, nó sẽ bị nghiền nát vụn. Kiễng chân mãi, đứng lâu sao được, lừa dối sẽ có ngày lòi mặt ra. Một người anh em của ta đã lọt được vào nơi đóng trại của quân giặc, hôm nay đã báo cho ta biết rằng quân Mãn Châu đang tiến tới đây để tiêu diệt chúng ta sạch sành sanh. Người anh em đó cũng cho rõ cả tên của kẻ phản bội...
Sư trụ trì im lặng, từ từ đưa cặp mắt đã phai màu nhìn các sư. Lương tâm ông cắn rứt vì ông đã nói dối. Làm gì có thám báo thám biếc. Song khốn thay, cái tin tối nay quân Mãn Châu sẽ tàn sát tất cả mọi người sống trong chùa Thiếu Lâm lại là điều có thực. Tin này do cháu ông già Lý, một lão nông dân đánh cá thường hay tạt vào đây đưa hàng hóa, đã cung cấp cho. Do phải chạy ba chân bốn cẳng, nên thằng bé vừa hổn hển thở vừa tuôn ra một mạch là hôm nay, ở ngoài bờ sông, nó đã chạm trán bọn lính của bát kỳ quân1 nó vội nấp vào bụi cây, do đó nghe được câu chuyện bọn lính kháo nhau rằng đêm nay chúng sẽ được dịp vớ bẫm của chùa khi “bọn sư phiến loạn về chầu trời”.
Không còn nghi ngờ gì nữa: có kẻ đã báo cho bọn Mãn Châu biết rõ âm mưu lật đổ. Tên phản bội chỉ có thể là một kẻ nào đó nằm trong số các sư ở đây mà thôi, vì người ngoàikhông thể biết được bí mật của các sư trong chùa Thiếu Lâm.
Cháu ông lão đánh cá - một người mà sư trụ trì biết rất rõ - đã báo tin quá muộn. Hẳn là bọn Mãn Châu đang dùng con đường độc đạo tiến đến đây. Không hy vọng gì rút chạy khỏi chùa được nữa rồi, vì cả ba mặt chùa đều là sườn núi dốc thẳng đứng. Chỉ còn mỗi một cách là cử người đến cầu cứu Tam quận vương chư hầu, đồng thời ở đây phải cố cầm cự chờ quân cứu viện đến.
Sư trụ trì cho gọi bốn nhà sư tin cẩn nhất đến tịnh trai của mình và ra lệnh cho họ lên đường, sau đó, triệu tập số người còn lại để báo cho biết cái tai họa sắp tới và định bụng tìm ra kẻ phản bội...
Sư trụ trì nói chậm rãi, chốc chốc dừng lại và nhìn như xoáyvào khuôn mặt những người đang ngồi ở dưới sàn.
- Chư đệ! - Ông nhắc lại, giọng sang sảng vang lên một cách trang trọng. - Ta biết rõ tên kẻ nào đã bán linh hồn cho lũ Mãn Châu đáng căm giận...
Không khí trong phòng càng thêm căng thẳng. Các sư nhoàingười ra phía trước, dán mắt vào khuôn mặt của ông lão.
- Nó hiện đang ngồi trà trộn trong chúng ta đây, chư đệ ạ! - Sư trụ trì buột thốt lên, tiếng ông phá tan sự im lặng đang bao trùm khắp căn phòng.
Đôi mắt sư trụ trì tình cờ hướng về phía cửa mở toang của nhà nguyện. Một nhà sư trẻ ngồi nơi bậc thềm ra vào lẫn với những người không tìm được chỗ ngồi ở trong phòng, đã đứng bật dậy và lao vụt ra phía cửa chùa hé mở. Vài người ở những hàng cuối vọt đuổi theo hắn.
- Đứng lại! - Sư trụ trì giơ tay lên. - Nó chẳng chạy đi xa được đâu.
Đúng vậy, mấy phút sau, ba nhà sư vạm vỡ đã lôi tên chạy trốn vào sân, hai tay hắn bị trói quặt sau lưng. Ông già thông thái đã bố trí cho những người trung thành của mình phục sẵn ở bên ngoài.
Ở dưới sàn, các sư ngồi giãn ra hai bên. Tên phản bội bị giải đến trước bàn thờ theo lối đi vừa được tạo ra và bị bắt quỳ phủ phục, cả nhà nguyện vang lên tiếng thét phẫn nộ. Sư trụ trì giơ tay ra hiệu cho mọi người im lặng, rồi cất giọng nói:
- Thiên hạ nói không sai, trong người tên phản bội là tâm hồn của kẻ hèn nhát.
Sư trụ trì quay lại bảo kẻ tu hành đang quỳ phủ phục:
- Mười tám năm trước đây, khi ta nhặt được ngươi ở trên đường, hồi đó, nhà ngươi là một đứa trẻ sơ sinh dở chết dở sống, ta không ngờ rằng ta đã tha một con chuột nhắt vào viện hóa đạo, - giọng sư trụ trì đầy vẻ đau khổ. - Ta đã không nghĩ rằng nuôi dưỡng nhà ngươi chính là nuôi dưỡng cái chết cho bản thân. Nhà ngươi hãy cho chúng ta hay tại sao nhà ngươi lại chạy sang hàng ngũ quân Mãn Châu? Nhà ngươi đã được hứa trả có hậu hĩnh không về những cái đầu của chúng ta? Nói đi xem nào, A Sát!
Gã thanh niên quỳ phủ phục và nhìn chằm chằm vào một điểm ở trước mặt mình. Đôi mắt hắn ti hí giữa hai hàng mi hé mở, nên trông không ra mắt nữa, mà chỉ là hai kẽ hở nhỏ, môi hắn mím chặt lại. Xem ra hắn không buồn nghe sư trụ trì nói. Một phút trôi qua trong bầu không khí im phăng phắc, rồi lại một phút nữa trôi qua.
Bỗng tên A Sát trấn tĩnh lại. Hắn đưa mắt đảo quanh nhìn những người đang ở trong phòng, mặt méo xệch đi vì căm hờn.
- Tất cả lũ các ngươi sẽ chết hết! - Hắn thét lên. - Chết tuốt! Lũ ngươi chỉ còn sống được không đầy một giờ nữa thôi! Quân Mãn Châu sẽ giết sạch chúng bay! Ta sẽ phỉ nhổ nhà ngươi! Nghe rõ chưa, lão già? Ta sẽ phỉ nhổ! Nhà ngươi sẽ không dám giết ta đâu! Đức Thánh Nhân sẽ không tha thứ cho nhà ngươi về tội sát nhân!
Tiếng gào thét của hắn chuyển thành tiếng khóc nức nở điên dại, ngực hắt ra những hơi thở khò khè, cổ họng kêu lên cùng cục. Sau đó, A Sát im bặt. Cặp mắt lại ti hí. Môi mím chặt.
Ai nấy dường như thẫn thờ sửng sốt, không thốt lên được một lời nào trong mấy giây. Mãi sau mới có tiếng thét nổi lên:
- Bắt nó phải trả cái tội phản bội của nó! - cả nhà nguyện vang dậy tiếng ồn ào phẫn nộ.
- Giết chết loài phản bội đi! Phải giết!
- Chặt đầu nó đi!
- Phanh thây nó ra!
- Treo cổ nó lên!
Sư trụ trì không tài nào dẹp yên các sư đang đùng đùng nổi giận. Chật vật lắm ông mới đưa nhà nguyện trở lại im lặng.
- Bớ chư đệ, mong chư đệ hãy hồi tâm! - Sư trụ trì phẫn nộ thét lên khi những tiếng hò hét cuối cùng lắng xuống. - Đức Thánh Nhân đâu có dạy chúng ta làm điều tàn bạo! Chư đệ hãy nhập tâm: với người tốt ta sẽ làm điều thiện và ngay cả với kẻ ác ta cũng sẽ làm điều thiện. Chúng ta được dưỡng dục một phẩm hạnh như thế đấy. Chư đệ, lẽ nào ta lại phụ lời di huấn của Đức Thánh Nhân. Không! A Sát không xứng với tội chết. Nó sẽ sống. Và đấy là hình phạt cao nhất về tội phản bội của nó. Còn bây giờ, chúng ta hãy cầu khấn Đức Thánh Nhân và trông chờ lòng từ bi của người. Người sẽ không bỏ mặc chúng ta và quân cứu viện mà ta đã cử bốn sư đệ đi cầu cứu sẽ đến kịp thời. Phế Đại Thanh, phục Minh!
Hai ngày sau, bốn nhà sư được sư trụ trì cử đi cầu viện đã nấp sau các gốc cây, rồi men dần tới chân tường chùa Thiếu Lâm. Họ đã lọt qua đám quân Mãn Châu đang tiến về phía chùa, song sự liều mạng của họ té ra là vô ích. Các sư trở về tay không, vì Tam quận vương chư hầu đã từ chối không chịu chi viện.
Các sư lặng lẽ lọt vào sân qua cửa bí mật và sững người khiếp sợ. Một cảnh tượng hãi hùng trải ra trước mặt họ: xác các sư bị chặt đầu, chặt cụt chân tay, bị moi gan mổ ruột, nằm la liệt dưới mặt đất. Vào đến nhà nguyện họ cũng bắt gặp những cảnh tượng không kém ghê rợn như vậy: xác sư trụ trì và một vài sư khác cũng bị chặt cụt méo mó. Căn phòng bốc lên mùi xú uế không sao chịu nổi.
Các sư vội vàng quay ra và tiến sâu vào sân chùa, đi về phía tịnh trai, nơi họ từ giã cách đây hai ngày.
Đúng lúc đó, một tiếng rên yếu ớt từ phía hàng rào nổi lên, đập vào tai họ. Các sư chú ý đề phòng. Tiếng rên lại nổi lên, cả bốn người đều chạy bổ đến chân tường, họ thấy một sư hữu may mắn sống sót nằm ở dưới đất, mình bê bết máu.
Họ đưa nhà sư này vào tịnh trai, rửa sạch máu và băng bó lại. Độ ba giờ sau, người bị thương hồi tỉnh và vắn tắt thuật lại diễn biến của cái đêm khủng khiếp ấy. Cần gì phải biết tỉ mỉ cặn kẽ nữa, những điều mắt thấy đã tự nói rõ cả rồi.
Vĩnh Duy, nhà sư lớn tuối nhất trong bốn người và được coi là nhân vật thứ hai ở chùa sau sư trụ trì, lên tiếng:
- Chư đệ! Do có sự phản bội hèn hạ, nên chúng ta đã phải chịu một đòn nặng nề. Chúng ta đã có trên trăm người thế mà chỉ còn lại vẻn vẹn có năm anh em ta. Song tiếng nói của Đức Thánh Nhân mách bảo ta rằng chúng ta không có quyền xuôi tay bỏ mặc sự nghiệp đã được biết. Thiên hoàng kêu gọi chúng ta tiếp thêm sức sống cho Hội Tam Hoàng đang hấp hối. Liệu chư đệ có sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi đó không?
- Có! - Các sư đồng thanh đáp khẽ, nhưng kiên quyết.
- Chư đệ có sẵn sàng tiếp tục cuộc đấu tranh thiêng liêng của chúng ta chống quân Mãn Châu đáng căm giận không?
- Có!
- Chư đệ có sẵn sàng hy sinh vì chính nghĩa cao cả không?
- Có!
- Nếu vậy, chư đệ hãy nghe đây. Đám mây trắng và thuần khiết bốc lên báo hiệu điềm lành. Chúng ta phải phò nhà Minh lên ngôi báu. Chúng ta thề sẽ diệt triều Thanh. Chúng ta sẽ vượt qua sông Hoàng Hà vĩ đại và dựng lại vương triều Minh! Chúng ta thề như vậy vào đúng năm Rồng! Ở khắp mọi nơi, Đức Long hoàng thiêng liêng luôn luôn che chở Đại Huynh Hội của chúng ta.
Vĩnh Duy thở dài thườn thượt và nói tiếp:
- Chư đệ, xin chư đệ hãy nghe tôi giãi bày! Tôi không có khả năng gì cả! Điều duy nhất mà tôi có, đó là lòng trung thành đối với nghĩa vụ. Tôi ủng hộ triều Minh và sẵn sàng diệt những kẻ phản bội không ghê tay. Số phận của tôi phó mặc cho ông Trời. Chư đệ hãy tin vào tấm lòng trung thực của tôi và nghe lời tôi nói. Mặt trời nằm ở trên trời, trái tim thuộc về con người. Trái tim phải rực sáng và nóng bỏng như Mặt Trời. Khốn thay cho kẻ nào quên mất những điều đó! Hội Thiên, Địa và Nhân ra đời từ trong máu của những người anh em chúng ta đã hy sinh. Chúng ta đã quá cả tin và nhân từ nên đã phải chịu tổn thất về chuyện đó. Từ nay trở đi, luật lệ chủ yếu của Hội Tam Hoàng là thẳng tay tàn nhẫn. Tôi kêu cầu Hoàng Long Giao - một con rồng tàn bạo nhất - phù hộ cho chúng ta! Phế Thanh dựng Minh. Thiên hoàng, nữ Địa hoàng và các thần linh của tổ tiên chúng ta chứng giám cho lời tôi!
Vĩnh Duy rút con dao găm từ trong thắt lưng ra, rồi đưa lên miệng.
- Im lặng - đó là luật lệ thứ hai của Hội Tam Hoàng. Chư đệ cứ cắt lưỡi tôi, nếu một lúc nào đó tôi vi phạm luật lệ im lặng.
Nhà sư hé miệng, rồi bập mạnh lưỡi dao sắc bén vào đầu lưỡi. Môi Vĩnh Duy nhuốm máu đỏ thắm, một tia máu mảnh trào xuống cằm. Lúc này, trông nhà sư thật hung dữ: đầu cạo nhẵn bóng, lỗ mũi nở rộng mặt bê bết máu. Ông ta cầm con dao găm trong bàn tay phải, vung lên rồi đâm phập xuống. Lưỡi dao vach một đường vòng cung và khựng lại trước ngực chỗ tim Vĩnh Duy. - Lưỡi thép sắc bén này sẽ đâm thủng tim tôi, nếu một lúc nào đó tôi phản bội Đại Huynh Hội.
Ông ta đưa con dao găm cho nhà sư đứng ngay cạnh.
- Sư đệ thề đi!
Nhưng khi người này định đọc lời tuyên thệ, thì từ trong nhà nguyện vọng ra một tiếng động mạnh tựa như có một vật gì đó rơi xuống sàn đá. Các nhà sư lặng người đi. Vĩnh Duy đưa mắt ra lệnh cho một nhà sư đi thăm dò xem có chuyện gì vậy. Người này lẳng lặng trườn ra ngoài tịnh trai và lẩn vào đêm tối, một lúc sau, xuất hiện cũng lặng lẽ như khi biến mất.
- A Sát, - nhà sư khẽ nói.
- Nó làm gì ở đằng ấy thế?
- Nó tìm kiếm vật gì đó bên bệ thờ.
Vĩnh Duy cười, vẻ khinh bỉ.
- Nó tìm của nả của những người anh em mà nó đã phản bội. Thế nghĩa là quân Mãn Châu đã rút rồi. Của cải thì đúng là chúng ta có thật. Nhưng A Sát chẳng đào bới được gì đâu, vì chỉ có sư trụ trì và tôi mới biết rõ chỗ chôn giấu thôi. Vàng sẽ còn giúp ích nhiều cho chúng ta.
Đôi mắt Vĩnh Duy ánh lên một ngọn lửa độc ác.
- Đức Thánh Nhân trao tên phản bội cho chúng ta. Càng hay!
Các sư liền rút dao găm ra.
- Khoan đã, - Vĩnh Duy ngăn họ lại. - Tên A Sát đáng tội chết. Nhưng nếu chúng ta đâm mũi dao găm của mình vào thân thể nó, thì chúng ta có khác gì những kẻ sát nhân thông thường cơ chứ? Đức Thánh Nhân răn dạy chúng ta rằng kẻ nào không tuân thủ nghi lễ, kẻ đó là một tên vô đạo đức. Nhờ có nghi lễ nên Trời, Đất mới thuận hòa, Nhật, Nguyệt mới sáng tỏ, Bốn Mùa mới lần lượt thay thế nhau trong một năm. Mọi việc đều phải tuân theo nghi lễ: từ việc thừa hành ý Trời, thờ phụng Tổ tiên, tôn kính Bề trên đến việc thưởng và phạt cũng vậy. Chư đệ này, ta nên làm thế này, thế này...
Khi Vĩnh Duy dứt lời, các sư liền lẳng lặng đi về phía nhà nguyện.
A Sát vẫn tiếp tục cuộc tìm kiếm vô hiệu của mình. Hắn thận trọng sờ sờ mặt sàn bên bệ thờ và hy vọng rằng một phiến đá sẽ từ từ xê dịch và cái kho báu bí mật sẽ mở ra ngay trước mặt hắn.
Tàn sát các sư trong chùa Thiếu Lâm xong, lũ giặc Mãn Châu phục kích chờ suốt một ngày đêm đội quân mà bốn nhà sư đã đi cầu viện để cứu các sư huynh của mình. Mãi tới chiều tối hôm sau lũ giặc mới chịu rút. Trước khi rút, chúng ta lệnh cho A Sát nằm chờ “bọn dấy loạn” và dò la xem Tam quận vương chư hầu cùng quân sĩ đang ẩn náu ở đâu. A Sát loanh quanh luẩn quẩn quanh chùa một hồi lâu, lưỡng lự không dám vào, vì hắn có cảm giác hồn ma không đầu của sư trụ trì đang rình hắn ở trong đó. Nhưng hắn rất thèm muốn tìm số vàng mà tình cờ hắn được biết qua câu chuyện trao đổi giữa sư trụ trì và Vĩnh Duy. A Sát đợi đến tối và nén sợ bước vào nhà nguyện.
- A Sát! - Một giọng nói quen thuộc nổi lên. - Sư đệ!
Nghe thấy mấy tiếng “sư đệ”, nỗi khiếp sợ nổi lên trong lòng A Sát dịu lắng. Tất nhiên là bốn sư này không hay biết gì về sự việc đêm nọ. Chỉ tiếc mỗi điều là hắn vẫn chưa tìm ra được kho báu. Nhưng không sao, hắn sẽ hỏi dò Vĩnh Duy xem chỗ cất giấu vàng ở đâu. Còn nếu khi nào hắn nhận được số tiền thưởng mà quân Mãn Châu đã hứa cho thì hắn sẽ là người giàu có, rất giàu có.
- Tôi đây, sư huynh Vĩnh Duy ạ, - A Sát thì thầm đáp, rồi bước ra ngoài nhà nguyện.
- Chào sư đệ! - Vĩnh Duy chào hắn.
- Chào sư huynh, - A Sát đáp lễ và rầu rĩ nói tiếp:
- Trông thấy những điều lũ quân Mãn Châu đáng nguyền rủa đã gây ra cho sư trụ trì và những người anh em khác của chúng ta, thật là khủng khiếp.
Vĩnh Duy nghiến răng và quay mặt đi.
- Đúng, - ông ta chậm rãi tán thành, - nỗi đau thương của chúng ta thật vô hạn. Nhưng, tuy được gặp mỗi mình sư đệ còn sống sót, chúng tôi cũng thấy mừng rồi. Sư đệ hãy thuật lại cho chúng tôi nghe giờ phút cuối cùng của các sư hữu thân thích của chúng ta.
- Chao ôi, sư huynh ơi! Những giây phút khủng khiếp đó, tôi đã không ở bên họ và tôi không thể tự tha thứ cho bản thân về chuyện đó. Giá như tôi đã chết quách đi cùng với mọi người thì tốt hơn.
“Nhà ngươi không còn phải chờ đợi lâu la nữa đâu”, - Vĩnh Duy không thương xót thầm nghĩ.
- Sau khi sư huynh đi rồi, - A Sát kể tiếp, - sư trụ trì cử tôi vào làng thăm dò xem quân Mãn Châu có đông không và khi nào thì chúng định tấn công vào chùa. Nhưng tôi đã không chạm trán với chúng ở trong làng. Chúng tiến theo con đường khác. Khi tôi quay về thì mọi chuyện đã xảy ra rồi.
- Lẽ nào lại có thể có con đường khác vào chùa được nhỉ? - Vĩnh Duy hỏi, mắt nhìn A Sát chằm chằm.
- Không, không có đâu, - A Sát vội vàng bác lại - chúng rời khỏi làng theo mạn phía Bắc và băng qua rừng tới chỗ đường lên núi.
- Thôi, sư đệ đừng rầu rĩ buồn phiền nữa, - Vĩnh Duy để tay lên vai tên phản bội. - Hội Tam Hoàng chưa chết đâu. Chúng tôi đã hồi sinh nó và sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh. Sư đệ có cùng đi với chúng tôi không? Sư đệ có hoảng sợ trước cái chết của các sư hữu thân thích của chúng ta không?
- Tôi xin sẵn sàng, - A Sát đáp, - chúng ta sẽ trả thù cho họ!
- Như vậy thì ta không nên để mất thời gian quý báu nữa. Về chỗ tịnh trai của tôi đi. Ta sẽ ăn thề trung thành với nhau và rời bỏ cái nơi khủng khiếp này. Thi hài bị làm nhục của các sư hữu chúng ta kêu gọi chúng ta rửa hận!
Các sư quay về chốn tịnh trai của Vĩnh Duy. Như đã được xếp đặt từ trước, họ đã đưa nhà sư bị thương sang phòng bên để A Sát không nhìn thấy. Mới đầu, những sư cùng đi với Vĩnh Duy làm lễ tuyên thệ.
- Bây giờ đến lượt sư đệ, - Vĩnh Duy quay lại bảo A Sát.
A Sát gật đầu. Hắn rất hồi hộp lo lắng. Mới đứng nghe các sư đọc lời thề hắn đã run lẩy bẩy, lúc này hắn lại càng run hơn.
Hai nhà sư bước ra khỏi tịnh trai.
Vĩnh Duy giơ dao găm lên môi A Sát. Hắn líu lưỡi thốt ra những lời cần phải nói. Sau đó, lưỡi dao tì vào ngực hắn.
- Tim tôi sẽ bị đâm thủng... - A Sát mới nói được đến đấy thì đã tịt ngắc. Mắt hắn mở trợn tròn. Người ta đưa Lỗ Chân vào tịnh trai. Khi thấy Lỗ Chân nằm ở chân tường, A Sát cứ ngỡ rằng nhà sư đã bị giết chết rồi.
- Đúng! Trái tim nhà ngươi sẽ bị đâm thủng bởi lưỡi thép sắc bén này! - Vĩnh Duy thét lên, rồi đâm con dao găm vào ngực tên phản bội.
A Sát giật mạnh tay ôm ngực, chệnh choạng bước đi vài bước về phía cửa. Vĩnh Duy và các sư khác im lặng nhìn theo hắn. A Sát lảo đảo và ngã gục xuống sàn.
- Sư trụ trì đã quá từ bi, - Vĩnh Duy dằn giọng nói và đưa mắt căm hờn nhìn cái thây đã tắt thở. - Sư trụ trì tôn sùng những lời di huấn của Đức Thánh Nhân. Nhưng lẽ nào Đức Thánh Nhân lại không rõ rằng con người cũng có loại súc sinh với tâm hồn chuột nhắt.
Vĩnh Duy im lặng một lúc, rồi quay lại bảo các sư:
- Chư đệ! Chúng ta phải lấy máu ăn thề để tỏ rõ lòng trung thành của chúng ta với nhau và với Hội Thiên, Địa và Nhân thiêng liêng của chúng ta.
Vĩnh Duy dùng dao găm rạch một đường lên ngực bên trái, phía dưới tim. Nhà sư lấy một chiếc bát sành hứng chỗ máu đang chảy từ chỗ vết rạch ra rồi đưa cho sư hữu. Những người này lần lượt làm theo Vĩnh Duy. Khi những giọt máu của nhà sư cuối cùng đã được hứng vào bát, Vĩnh Duy liền đỡ lấy bát, rồi uống một ngụm. Những người khác cũng làm như vậy.
Nghi lễ đã kết thúc.
- Từ nay trở đi chúng ta sẽ giữ hết sức bí mật tất cả những gì có liên quan tới huynh hội thiêng liêng của chúng ta, - Vĩnh Duy nói: - Nếu không cần thiết, tôi cấm không ai được nói đến chữ Tam Hoàng. Trước khi những từ này buột ra khỏi mồm chúng ta, chúng ta phải súc miệng bằng nước chè thơm. Mỗi người sẽ lựa chọn một tên mới cho bản thân.
- Sư huynh, - Lỗ Chân khẽ nói, - sư huynh xứng đáng là người thay thế sư trụ trì. Chúng tôi tin tưởng trao số phận của chúng tôi và việc cai quản Đại Huynh Hội chúng ta cho sư huynh.
Vĩnh Duy trân trọng nghiêng mình:
- Đa tạ sư đệ!
- Chúng ta kêu cầu Hoàng Long Giao phù hộ cho Hội Tam Hoàng, - Lỗ Chân nói tiếp, - như vậy người đứng đầu hội thiêng liêng của chúng ta từ nay sẽ mang tên là Hoàng Long. Hoàng Long sẽ là biểu tượng cho sự không thương tiếc của Hội Tam Hoàng đối với lũ quân Mãn Châu đáng căm hờn.
Lỗ Châu quay lại hỏi các nhà sư khác:
- Chư huynh có thuận tình với tôi không nào?
Các sư im lặng cúi đầu.
- Đa tạ các sư đệ, - Vĩnh Duy nhắc lại và lại nghiêng mình đáp lễ. - Lỗ Chân, sư đệ coi quản bệ thờ và gìn giữ các thánh tích thiêng liêng của chúng ta trong Viện hóa đạo. Như vậy, từ nay sư đệ sẽ được mệnh danh là Thủ Tự. Sư đệ sẽ lo hoàn tất việc nghi lễ của hội thiêng liêng chúng ta.
- Diêu Lương, - Vĩnh Duy quay lại bảo một nhà sư đang đứng im lặng trong góc tịnh trai và tay phe phẩy chiếc quạt giấy màu trắng, - mọi người đều biết rõ là sư đệ có tài nói hay, đồng thời lại biết cách giữ kín những suy nghĩ của mình. Sư đệ luôn luôn cầm quạt để không ai đọc được nét mặt của sư đệ. Sư đệ biết cách lý giải những lời răn dạy của Đức Thánh Nhân và bình những câu cách ngôn của tổ tiên chúng ta. Sư đệ sẽ là người gìn giữ những tư tưởng trong sáng của hội thiêng liêng chúng ta, giữ gìn cho Đại Huynh Hội chúng ta tránh được thói vô đạo đức, tránh lầm lạc và rối loạn. Từ nay trở đi sư đệ có tên là Bạch Phiến Chỉ.
Diêu Lương nghiêng mình:
- Sư đệ Vương Trạch Phú, - Vĩnh Duy quay lại bảo một sư cao lớn, cao hơn các sư khác đến một đầu, sư đệ là lưỡi gươm trừng phạt của Hội Tam Hoàng. Sư đệ hãy cầm lấy kiếm và gậy và kẻ nào phản bội Hội Thiên, Địa và Nhân thiêng liêng của chúng ta, sẽ phải run sợ trước sư đệ. Chúng ta sẽ gọi sư đệ là Hồng Trượng.
- Xin sư huynh Hoàng Long yên tâm, - Vương Trạch Phú nghiêng mình đáp, - kẻ nào thối chí sẽ chịu chung số phận với tên A Sát.
- Và cuối cùng sư đệ Đặng Quang, - Vĩnh Duy đặt tay lên vai nhà sư trẻ nhất. - Không ai nhanh nhẹn bằng sư đệ. Không ai lọt qua trước mũi kẻ thù lẹ làng và lặng lẽ bằng sư đệ. Sư đệ là sợi dây liên lạc giữa chúng ta với nhau. Sư đệ lấy rơm bện một đôi hài để quân Mãn Châu không nghe thấy tiếng chân sư đệ bước. Tên của sư đệ sẽ là Thảo Hài.
- Xin sư huynh Hoàng Long cứ ra lệnh, - nhà sư trẻ sốt sắng nói, - tôi sẵn sàng lao vào cuộc chiến đấu. Phế Thanh phục Minh! - Phế Thanh, phục Minh! - các sư khác đồng thanh hô.
- Còn bây giờ ta phải đi khỏi nơi đây! - Vĩnh Duy nói. - Viện hóa đạo bị vấy máu bẩn thỉu của kẻ phản bội rồi!
Các sư bước ra ngoài sân. Vương Trạch Phú lực lưỡng nên ghé vai cõng Lỗ Chân đang bị thương. Đi tới nhà nguyện, bỗng Vĩnh Duy đứng lại bảo:
- Sư đệ Bạch Phiến Chỉ, ta không nên để bọn Mãn Châu làm ô uế các thánh tích thiêng liêng của Hội Tam Hoàng. Sư đệ vào nhà nguyện lấy đem đi theo bát hương, kiếm, gậy, gương bát quái, lọng vàng.
Diêu Lương lặng lẽ tiến đến bên của nhà nguyện.
- Và cầm theo áo cà sa của sư trụ trì nữa nhé - Vĩnh Duy khẽ nói với theo. - Vết máu thiêng liêng của sư trụ trì chúng ta mãi mãi nhắc nhở chúng ta nhớ tới mối thù.
Vĩnh Duy ra hiệu cho các sư khác cứ đi tiếp, còn bản thân mình thì tựa như một con mèo, nhảy vài bước đã ra tới nghĩa trang của chùa.
Một lát sau, các sư đã tụ tập bên chiếc cửa bí mật. Vĩnh Duy ôm một cái tráp nhỏ bằng gỗ trong đựng châu báu. Năm người vượt qua rừng liễu mọc quanh chùa, rồi nhằm phía núi rảo bước.

 

Từ vựng chủ đề về Gia Đình .

家族 かぞく kazoku Gia đình 祖父 そふ sofu Ông 祖母 そぼ sobo Bà 伯父 おじ oji Bác trai 叔父 おじ oji Chú 伯母 おば oba Bác gái 叔母 おば oba Cô, dì 両親 りょうしん ryo...